KẸO TẮC VÀNG – MÓN QUÀ TỪ THIÊN NHIÊN

KẸO TẮC VÀNG Từ xưa, trong dân gian đã biết dùng các loại thảo dược tự nhiên trong việc làm giảm các triệu chứng ho, khàn giọng…. Một trong những phương pháp được dân gian lưu truyền là tắc chưng mật ong đường phèn giúp làm giảm ho, giảm đau họng. Kẹo Tắc Vàng là kết quả kết hợp của y học cổ truyền và ứng dụng khoa học kỹ thuật,  với  thành phần chính là Tinh dầu quả tắc, mật ong có công dụng hỗ trợ làm ấm họng và thông phế khí, giúp ngăn ngừa và làm dịu cơn ho, giảm đau rát họng và khàn tiếng. Cây tắc hay miền Bắc còn gọi là cây quất, có tên khoa học là Citrus japonica thuộc họ Cam Rutaceae. Trong một nghiên cứu về Tắc, Peng và cộng sự [1] đã xác định trong tinh dầu tắc có 37 hợp chất dễ bay hơi bao gồm limonene, α-pinene, caryophyllene và α-humulene. Limonene là thành phần chủ yếu của tinh dầu vỏ tắc (93,73%) [2] và có tính kháng khuẩn mạnh chống lại (Staphylococcus aureus, Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa, và Bacillus ssp., Salmonella typhi, Klebsiella pneumoniae, Proteus mirabilis, Nấm Candida albicans [3]. Vỏ tắc với mùi thơm đặc trưng do chứa flavonoid và terpenoid. Tổng hàm lượng phenolic và flavonoid của dịch chiết xuất từ vỏ tắc cao hơn so với chiết xuất từ quả [4]. Hoạt động chống oxy hóa của các loài cam, quýt được cho là do hàm lượng flavonoid. Flavonoid đã được chứng minh: ngăn ngừa một số bệnh tim mạch, chống khối u, kháng virus [4]. Ngoài ra tinh dầu của quả tắc có chứa lượng axit béo không no có tác dụng làm giảm lượng cholesterol trong máu và có thể được sử dụng để phòng chống các bệnh tim mạch [5]. Một sản phẩm tự nhiên quan trọng khác là mật ong, đã được sử dụng cho nhiều mục đích y học  từ thời cổ đại như:  kháng khuẩn, kháng virus, hỗ trợ điều trị bệnh tiêu hóa, tim mạch và viêm nhiễm.[6] Mật ong có chứa khoảng 200 chất [7] và chủ yếu bao gồm đường, nước và các chất khác như protein, enzym, axit hữu cơ, vitamin (đặc biệt là vitamin B6, B1, B3, B2 và B5), khoáng chất (bao gồm canxi, đồng, sắt, magiê, mangan, phốt pho, kali, natri và kẽm), chất màu, hợp chất phenolic, nhiều loại hợp chất dễ bay hơi và các hạt rắn [8]. Khả năng chống oxy hóa hữu ích của mật ong là nhờ một loạt các hợp chất bao gồm phenol, peptit, axit hữu cơ, enzyme có trong thành phần của mật ong. Mật ong đã được báo cáo là có tác dụng ức chế khoảng 60 loài vi khuẩn bao gồm vi khuẩn hiếu khí và vi khuẩn kỵ khí, vi khuẩn gram dương và gram âm. Nhiều kết quả khác nhau chứng minh hoạt tính của mật ong chống lại Bacillus anthracis, Corynebacterium diptheriae, Haemophilus influenzae, Klebsiella pneumoniae, Listeria monocytogenes, Mycobacterium tuberculosis, Pasteurella multicoda, Yersinia enterocolitica, Proteus species, Pseudomonas aeruginosa, Acinetobacter spp, Salmonella diarrhoea, Sal. typhi, Serratia marcescens, Shigella dysentery, Staphylococcus aureus, Streptococcus faecalis, Strep. mutans, Strep. pneumoniae, Strep. pyogenes and Vibrio cholerae [9, 10, 11]. Isomalt là loại đường có nguồn gốc tự nhiên, chiết xuất chủ yếu từ củ cải đường, đã được người Đức phát hiện ra từ năm 1957. Cho đến nay, Isomalt là một chất thay thế đường được sử dụng rộng rãi trong ngành thực phẩm vì chỉ cung cấp 2 kcal/g (bằng một nửa giá trị năng lượng của đường sucrose) [12]. Khác với đường thông thường, isomalt thích hợp cho bệnh nhân tiểu đường vì không làm tăng đáng kể nồng độ glucose, insulin, axit lactic trong cơ thể sau khi sử dụng [13]. Thêm vào đó, Isomalt không gây sâu răng làm cho isomalt trở thành chất tạo ngọt được sử dụng cho các loại kẹo thân thiện với răng [14]. Isomalt không có vị đắng, không có vi kim loại và dư vị khó chịu [15]. Chính vì những ưu điểm của đường Isomat, nên người bị tiểu đường, người ăn kiêng vẫn có thể sử dụng kẹo tắc vàng để hỗ trợ giảm đau họng, khan tiếng. Ngoài ra, kẹo tắc vàng còn bổ sung thêm tinh dầu bạc hà, tinh dầu gừng, tinh dầu tần dày lá và eucalyptol. – Menthol: là thành phần chính của tinh dầu bạc hà chiếm tỉ lệ (71,40%) [16]. Menthol khi uống 1 liều nhỏ có thể tăng tiết mồ hôi, giúp hạ sốt, chữa cảm mạo, ngạt mũi, nhức đầu, giúp giảm ho, còn giúp ích cho tiêu hóa, chữa kém ăn và ăn uống không tiêu [16]. – Gừng: Các  hợp chất chính phân lập từ gừng là gingerol, shogaols, zingiberene và zingerone, và các hợp chất khác: tecpen, vitamin và khoáng chất. Trong số đó, gingerol là thành phần chính, được báo cáo là có hoạt tính sinh học như: chống oxy hóa, kháng khuẩn và chống viêm thần kinh [18]. Tinh dầu gừng cũng có tác dụng kháng khuẩn trên nhiều chủng vi khuẩn, làm loãng niêm dịch, giúp làm giảm ho và giảm đau. Gừng thường được dùng điều trị cảm mạo, làm ra mồ hôi, chống cảm lạnh, chữa ho mất tiếng, ho do đờm ẩm. Gừng còn là vị thuốc chữa đầy bụng, ăn uống không tiêu, nôn mửa, tiêu chảy, đau bụng [17]. – Tần dày lá hay húng chanh là một dược liệu chữa cảm cúm, ho hen và có tính kháng khuẩn mạnh. Theo nghiên cứu của Viện vi trùng học, tinh dầu tần dày lá có tác dụng kháng sinh mạnh đối với nhiều loài vi khuẩn như: Staphylococcus, Salmonlla typhi, Shigella fIexneri, Shigella sonnei, Shigella dysenteria, … [17] – Eucalyptol là thành phần chiết xuất từ chính của tinh dầu Tràm gió chiếm tỉ lệ (27,512%) (19). Eucalyptol đã được báo cáo là có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, chống oxy hóa, giảm đau và giảm co thắt trong các bệnh khác nhau bao gồm cảm lạnh, cúm, các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp khác, viêm mũi và viêm xoang.[20]. KẸO TẮC VÀNG Tinh dầu bạc hà………7mg Tinh dầu quả tắc………1mg Tinh dầu gừng………….0.6mg Tinh dầu tần dày lá……0,5mg Eucalyptol……………….0,6mg Mật ong…………………..100mg Đường isomalt vừa đủ Công dụng: Hỗ trợ làm ấm họng và thông phế khí, giúp ngăn ngừa và làm dịu cơn ho, giảm đau rát họng và khàn tiếng. Đối tượng sử dụng: Người lớn và trẻ em trên 6 tuổi có những triệu chứng như: ngứa cổ họng, đau rát họng, ho gió, ho khan, ho có đàm, khàn tiếng Cách dùng: Ngậm mỗi lần 1 viên, không quá 10 viên/ ngày Ngậm đến khi tan hết hoặc nhai trước khi nuốt Trẻ em dưới 6 tuổi và phụ nữ mang thai nên tham khảo ý kiến bác sĩ, nhân viên y tế Tài liệu tham khảo:
  1. L.W. Peng et al., Effect of heat treatments on the essential oils of kumquat (Fortunella margarita Swingle). Food Chem. 136(2), 532–537 (2013)
  2. H.S. Choi, Characteristic odor components of kumquat (Fortunella japonica Swingle) peel oil. J. Agric. Food Chem. 53(5), 1642–1647 (2005)
  1. J.C. Matasyoh, J.J. Kiplimo, N.M. Karubiu, T.P. Hailstorks, Chemical composition and antimicrobial activity of essential oil of Tarchonanthus camphoratus. Food Chem. 101(3), 1183–1187 (2006)
  2. Mahmoud A. Al‑Saman1 · Asmaa Abdella1,4 · Khaled E. Mazrou2 · Ahmed A. Tayel3 · Sibel Irmak (2019) Antimicrobial and antioxidant activities of different extracts of the peel of kumquat (Citrus japonica Thunb), Journal of Food Measurement and Characterization.
  3. M. Briggs, K. Petersen, P. Kris-Etherton, Saturated fatty acids and cardiovascular disease: replacements for saturated fat to reduce cardiovascular risk. Healthcare 5(2), 29 (2017)
  4. Tahereh Eteraf-Oskoueiand Moslem Najafi, Traditional and Modern Uses of Natural Honey in Human Diseases: A Review, Iran J Basic Med Sci.2013 Jun; 16(6): 731–742.
  5. Escuredo, O., Dobre, I., Fernández-González, M., & Seijo, M. C. (2014). Contribution of botanical origin and sugar composition of honeys on the crystallization phenomenon. Food Chemistry, 149, 84-90.
  6. Alqarni, A. S., Owayss, A. A., & Mahmoud, A. A. (2012). Mineral content and physical properties of local and imported honeys in Saudi Arabia. Journal of Saudi Chemical Society, 5, 618 – 625.
  7. Jeffrey AE, Echazarreta CM. Medical uses of honey. Rev Biomed 1996; 7:43-49.
  8. Asadi-Pooya A, Pnjehshahin MR, Beheshti S. The antimycobacterial effect of honey: an in vitro study. Riv Biol 2003; 96: 491-496.
  9. Bansal V, Medhi B, Pandhi P. Honey -A remedy rediscovered and its therapeutic utility. Kathmandu Univ Med J 2005; 3:305-309
  10. Radeloff MA, Beck RHF. Polyols—more than sweeteners. Sugar Industry. 2013;138:226–234. doi: 10.36961/si14095.
  11. Thiébaud D, Jacot E, Schmitz H, Spengler M, Felber JP. Comparative study of isomalt and sucrose by means of continuous indirect calorimetry. Metabolism Clin Exp. 1984;33:P808–P813. doi: 10.1016/0026-0495(84)90106-9.
  12. Featherstone J. Effects of isomalt sweetener on the caries process: a review. J Clin Dent. 1994;5:82–85.
  13. Schiffman SS, Booth BJ, Losee ML, Pecore SD, Warwick ZS. Bitterness of sweeteners as a function of concentration. Brain Res Bull. 1995;36:505–513. doi: 10.1016/0361-9230(94)00225-P.
  14. A.K. Pandey, M.K. Rai & D. Acharya (2003) Chemical Composition and Antimycotic Activity of the Essential Oils of Corn Mint (Mentha arvensis) and Lemon Grass (Cymbopogon flexuosus) Against Human Pathogenic Fungi, Pharmaceutical Biology, 41:6,421-425,
  15. Đỗ Tất Lợi (2004). Những cây thuốc và Vị thuốc Việt Nam, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội
  16. Nguyen Hoang Anh,1Sun Jo Kim,1Nguyen Phuoc Long,1 Jung Eun Min,1 Young Cheol Yoon,1 Eun Goo Lee,1 Mina Kim,1 Tae Joon Kim,1 Yoon Young Yang,1 Eui Young Son,1 Sang Jun Yoon,1 Nguyen Co Diem,2 Hyung Min Kim,1 and Sung Won Kwon1,* Ginger on Human Health: A Comprehensive Systematic Review of 109 Randomized Controlled Trials, Nutrients. 2020 Jan; 12(1): 157.
  17. Zainon Mat Sharif, Alifah Farhana Kamal, Nurul Jannah Jalil (2019) Chemical Composition of Melaleuca Cajuputi Powell, International Journal of Engineering and Advanced Technology (IJEAT) ISSN: 2249 – 8958, Volume-9, Issue-1.
  18. Seol, G. H., & Kim, K. Y. (2016). Eucalyptol and Its Role in Chronic Diseases. Drug Discovery from Mother Nature, 389–398.
   
Bấm để chia sẻ bài viết:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *